Xã hội

Sự trường tồn của tiếng trống Đọi Tam

Cập nhật: 23:45 22/03/2015

Hà Nam là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, có truyền thống văn hóa lâu đời với sự phát triển rực rỡ của nhiều làng nghề thủ công truyền thống. Theo thống kê chưa đầy đủ, tỉnh này có trên 40 làng nghề. Đặc biệt, làng trống Đọi Tam với lịch sử hơn 1000 năm phát triển là minh chứng cho sự trường tồn của một nền văn hóa vùng châu thổ sông Hồng.



Cưa bào, xếp dăm, bưng trống,… là việc của đàn ông.


Theo bước chân những người làm trống

Tôi hỏi đường một ông cụ già đi chiếc xe đạp cũ, tóc cụ đã bạc phơ, đôi mắt có vẻ hơi mờ nhưng vẫn còn minh mẫn lắm. Sau này, người làng nói cho tôi biết ông là nghệ nhân Phạm Hùng Bì (82 tuổi), đã có thâm niên hơn 60 năm làm trống.

Chiếc trống lớn nhất mà gần đây ông làm cùng các thợ giỏi của làng là chiếc trống Sấm dùng trong Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ông tâm sự: “Trống Sấm hiện đang đặt ở Văn Miếu Quốc Tử Giám có đường kính mặt trống là 2,01m; chiều cao 2,65m; thể tích 10m3; diện tích xung quanh trống là 19,5m2”.

Nhắc đến chiếc trống lớn đó, ông cụ già lại bồi hồi nhớ những ngày đầu tiên theo cha đi khắp nơi làm trống, ngày đó mọi thứ đều làm bằng tay chứ không có máy móc như bây giờ. Trống ngày xưa cũng nhỏ, mỗi khi được nhận làm chiếc trống hơi lớn hơn một chút là lòng người thợ cảm thấy háo hức lắm, cứ y như là sắp làm một việc lớn lao cho dân cho làng.

Ngày ấy ông Bì mới có 12 tuổi, theo cha đi học nghề khắp nơi. Từ Thái Bình, Hải Hưng, Hải Phòng đến tận Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An… không chỗ nào không có dấu chân hai cha con. Hành trang mang theo chỉ có cuộn da trâu và hộp đồ nghề. Hai bàn chân đi đất ngày đó không hề biết mỏi.

Có lẽ, bởi ông thấy mình gắn bó với tiếng trống da trâu từ khi còn trong bụng mẹ, lớn lên tự tay cầm cái đục, cái cưa của bố rồi theo nghề như một lẽ tự nhiên. “Bây giờ già rồi, tôi đã truyền nghề cho con trai, con rể, nhưng mà mỗi ngày không được chạm tay vào thớ gỗ mít chắc đanh, không được nghe tiếng dùi gõ lạch cạch là thấy nhớ không chịu được”.

Người đàn ông phúc hậu đó dẫn tôi đến nhà con rể ông. Anh tên là Nguyễn Văn Nam, cũng là người làng, lấy vợ từ năm 21 tuổi, bây giờ hai vợ chồng đã mở một xưởng trống riêng.

Tôi vào nhà, thấy một dãy trống cỡ lớn đang nằm gọn gàng một bên, phía bên kia là những bao thóc chồng lên nhau. Anh vẫn không ngừng tay đục, nói vọng vào trong nhà: “Nhà trồng có mấy sào ruộng cấy để lấy gạo ăn thôi. Chứ cứ có trống trong nhà là như có thóc có gạo dự trữ rồi cô ạ…”.

Cha tôi ngày trước cũng từng về Đọi Tam đặt một chiếc trống lớn cho hội làng. Trước khi tôi đến đây, ông dặn: “Con nhớ hỏi đến nhà bác Khang nhé. Về Đọi Tam tìm hiểu nghề làm trống mà không đến nhà bác Khang thì coi như chưa đến”. Tôi đành tạm biệt hai cha con ông cụ tìm đến nhà nghệ nhận Nguyễn Chi Khang.
 



Nghệ nhân Nguyễn Chi Khang trong gian nhà chứa đủ các loại trống.


Quả là tiếng thơm xa mãi, người ở đây ai cũng biết ông, họ đưa tôi đến tận cái dốc gần nhà cả Khang. Ngay đầu ngõ là một xưởng lớn. Có một cậu là con trai bác Khang cùng vợ mình và vài người thợ mướn đang đứng máy. Anh con trai nhanh miệng: “Em vào nhà đi, bố anh đang xếp dăm trống trong sân”.

Trời lạnh mà bác thợ Khang vẫn xoay mình trần xếp dăm cho chiếc trống cỡ lớn đang thành hình. “Cháu cứ vào nhà đi, bác xong đây rồi…”. Căn nhà của bác Khang chật ních các loại trống, trống cơm dài nhỏ treo trên tường, trống hội cỡ lớn chiếm gần nửa gian nhà, bên trên là các loại trống quân, trống cái, trống đế, trống bồng… Trong tủ kính có bằng chứng nhận nghệ nhân giỏi và nhiều ảnh chụp bác bên những chiếc trống trong các ngày hội lớn của làng, của nước.

Ngày trước, bác Khang là một trong những học sinh giỏi của tỉnh Hà Nam Ninh cũ. Nhưng vì nhà nghèo không thể theo con đường học vấn, 13 tuổi, bác bỏ học theo cha đi làm trống khắp nơi. Những ngày đầu tiên đi xa, đôi chân sưng phồng bỏng rộp, bác khóc lóc nhiều nhưng vẫn quyết tâm đi theo con đường của cha…

“Nhưng người làm trống dạo đó có cái vui là được đi du lịch không mất tiền cháu ạ”. Được đi nhiều nơi nên bác Khang có vốn kiến thức rất rộng về hầu hết các đình chùa miền Bắc. “Nhớ nhất là lần làm trống ở chùa Báo Đáp, thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định bây giờ.

Làng này hàng năm có hội trống rất to. Hai cha con bác được thuê làm 40 quả trống chỉ trong 1 tháng trời. Ngày đó cái gì cũng phải làm bằng tay nên muốn hoàn thành 40 quả trống trong khoảng thời gian ngắn không hề là chuyện đơn giản. Hai cha con phải thắp đèn dầu thức làm trống thâu đêm, chỉ lo đến ngày hội mà trống chưa xong thì mất uy tín với ngừơi làng…”.

Bác Khang kể: “Tiếng thơm làng trống Đọi Tam đã vang xa khắp nơi, có nhiều bạn học cũ tìm về thăm bác. Ban đầu bác nghĩ tủi hổ, mình chỉ là anh thợ trống nghèo hèn, không quyền cao chức trọng, thua bạn kém bè nên tránh gặp. Nhưng bây giờ bác nghĩ lại, thấy rằng mình cũng là ngừơi làm cái nghề vinh dự, mang lại niềm vui cho đời, lại rạng rỡ tổ tiên nên từ đó bác không còn ngại ngần gì nữa…”.

Từ những tiếng trống tiếp nối…

Trên đường vào làng, tôi trông thấy một ngôi mộ lớn, khang trang nằm dưới chân núi Đọi. Người làng nói rằng đó là mộ tổ của làng nghề. Cứ đến ngày mồng 7 tháng giêng hàng năm, người dân Đọi Tam lại sắm sửa bánh dầy chè kho, sắp mâm ngũ quả rồi gióng hồi trống lớn tưởng nhớ đến công lao của người lập nên làng nghề.

Người làng kể, xưa có một người tên là Nguyễn Đức Năng cùng với em mình là Nguyễn Đức Đạt đi qua Đọi Tam, thấy vùng này có nhiều cây mít gỗ đẹp, quả chín thơm lừng, gỗ vàng ươm, lại không bị mọt nên quyết định chọn làm chốn định cư để hành nghề.
 



Công việc của phụ nữ thường là đánh giấy giáp hoặc sơn ngoài tang trống.
 

Năm 986,vua Lê Đại Hành từ Kinh đô Hoa Lư theo đường sông Châu Giang có chọn cánh đồng dưới chân núi Đọi làm nơi tổ chức lễ hội Tịch điền - cày ruộng khuyến nông. Cụ Năng và cụ Đạt thấy thế, đã tự tay làm một cái trống to để đón vua.

Tiếng trống âm vang khắp cánh đồng như sấm nên người đời còn gọi ông là Trạng Sấm. Sau lần đó, nhà vua cho người Đọi Tam lên chốn kinh kì phát triển nghề làm trống. Thế cho nên sau này mới có phố Hàng Trống trong băm sáu phố phường Hà Nội.

Người làng Tam có lời nguyền không truyền nghề cho thiên hạ, kể cả con rể và con gái. Cho đến bây giờ, người phụ nữ vẫn chỉ tham gia vào công việc phụ chứ chưa thể được bưng trống như các bậc nam nhi. Ngày trước, người Đọi Tam đi khắp nơi làm trống, từ Bắc vào Nam, đâu cũng nghe danh. Có người định cư lại ở những vùng đất mới, họ sinh con, đẻ cái rồi lại tiếp tục cái nghề của cha ông mình để lại. Cứ thế, đời cha truyền cho con, ông truyền cho cháu…

Bác Nguyễn Chi Khang nói giọng tự hào: “Bây giờ trên khắp cái đất nước này, cứ nơi nào làm trống thì đa số là người làng Đọi Tam. Ở Sài Gòn có anh Phan Văn Thập, phố Hàng Nón ở Hà Nội có xưởng của Phạm Chí Thịnh, rồi thì ở Lạng Sơn, Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An, Long An… cũng đều là người ở đây cả”.

Trẻ con trong làng nghe tiếng trống thình thình từ khi còn trong bụng mẹ. Lớn lên một tí thay vì đẽo quay, đẽo khăng, chúng nó bắt chứơc cha mình, anh mình đẽo từng chiếc dăm trống. Trong làng lúc nào cũng có khoảng 500 người làm trống.

Bác Lê Ngọc Dương, một trong những người có xưởng trống lớn trong làng có cậu con trai năm nay học lớp 8. Ngoài giờ học, cậu bé còn giúp bố xẻ dăm làm trống. Những người thợ làm ở xưởng này tấm tắc nói với nhau: “Thằng bé đứng cái máy cưa ngang tầm mắt mà toàn bộ dăm ở cái xưởng này do nó cưa đấy cô ạ. Thế mà cái nào cũng cong, cũng vừa khin khít”.

Bác Lê Văn Lương, trưởng thôn Đọi Tam, bằng một giọng rất tự hào nói với tôi: “Từ những sự tiếp nối đó, tôi rất có niềm tin vào sự trường tồn của tiếng trống làng mình…”.

Trống kêu hay hay dở là ở cái tâm của người làm trống

Tôi hỏi bác Khang tại sao chỉ có trống Đọi Tam mớí kêu hay, đẹp và bền? Bác mỉm cười: “Người ta cứ nói có bí quyết thế này, có bí quyết thế kia chứ thực ra không phải. Nghề làm trống này không hề khó, quan trọng là người thợ phải có cái tâm, có lòng kiên trì, bất cứ cái gì tốn công tốn sức thì đều hay, đều đẹp”.

Nhưng kì thực để làm được một chiếc trống kêu âm chuẩn, hay không hề đơn giản chút nào. Người đi tìm da trâu già, gỗ mít đẹp đã có cái khó của họ, nhưng ngay cả những người thợ phụ quét sơn cũng phải lựa tay sao cho nước sơn thật đều, thật nhẵn bóng. Một chiếc trống phải được sơn 5 lần. Nhìn chiếc trống bóng bẩy, tươi màu sơn, không một tì vết là bết ở đó chứa bao nhiêu là tâm huyết, sự cẩn thận và lòng trân trọng của người thợ trống Đọi Tam.
 


Lúc còn ở nhà con rể cụ Bì, tôi đã kịp nhìn thấy anh con rể trổ từng lỗ đinh lên tấm da trâu, nhịp nhàng thoăn thoắt, không lỗ nào được chệch ra ngoài. Miệng anh vẫn cười tiếp chuyện tôi, tay anh vẫn trổ đều tăm tắp.

Anh kể cho tôi nghe: “Mỗi loại trống có một thanh âm riêng biệt, không cái nào như cái nào. Cái khó của người làm trống là phải làm sao cho tiếng trống trường nó ra tiếng trống trường, tiếng trống hội ra tiếng trống hội, trống chèo ra tiếng trống chèo…

Tiếng trống mà đục, mà thô là do ngừơi thợ ghép dăm không khéo, là do gỗ mít hoặc da trâu chưa được khô kiệt, hoặc là do người bịt mặt trống chưa khít… Làm được một cái trống cũng cần phải từ từ qua từng công đoạn, không thể vì vội vàng mà làm hỏng cả chiếc trống. Tiếng trống hay là tiếng trống có hồn, là tiếng trống kêu gọi được sự đồng điệu của cảm xúc con người vào đó…”.

Tôi rời làng trống Đọi Tam, bên tai vẫn còn văng vẳng tiếng thử trống giòn tan trong nắng chiều. Có tụi trẻ con đi học về hát vang câu đồng dao quen thuộc: “Sáng bánh dầy chè kho, chiều làng lo làm trống”…
 

Trương Oanh


Các tin khác:

Mọi hành động sử dụng nội dung đăng tải trên Trang điện tử http://www.m.giadinhvatreem.vn/ phải được sự đồng ý bằng văn bản của Tạp chí Gia đình và trẻ em.